Thứ Tư, 5 tháng 12, 2018

MỤC LỤC (cập nhật ngày 6.12.2018)


-Loáng thoáng phía sau màn khói – giao lưu
-Làm phim ở Lào (1986) – videoclip
-Những ngày dự Liên hoan phim Hà Nội (1996) – giao lưu
-Kỳ tích Đồng Tháp Mười (2001) – phim tài liệu
-Đồng Tháp – đất và người, từ tập 4 đến tập 7 – phim tài liệu
-Sư đoàn 9 anh hùng, 6 tập (2006) – phim tài liệu
-Gắn bó với Sư đoản 9 – giao lưu
-Phạm Khắc – nhà quay phim gan góc – giao lưu
-Tuổi thần tiên (1995) – phim truyện
-Hạnh phúc mong manh 3 tập (1995) – phim truyện
-Người tốt một ngày 2 tập (1996) – phim truyện
-Chuyện Ngã Bảy (1996) – phim truyện
-Dòng đời từ tập 1 đến 10 (2001) – phim truyện
-Dòng đời từ tập 11 đến 20 (2001) – phim truyện
-Dòng đời từ tập 21 đến 30 (2001) – phim truyện
-Dòng đời từ tập 31 đến 40 (2001) – phim truyện
-Dòng đời từ tập 41 đến 52 (2001) – phim truyện







Thứ Ba, 4 tháng 12, 2018

DÒNG ĐỜI từ tập 41 đến tập 52

(52 tập x 30 phút)
Hãng phim truyền hình thành phố Hồ Chí Minh (TFS) sản xuất
Kịch bản: Phạm Thùy Nhân
Đạo diễn : Lê Cung Bắc
Biên tập: Minh Dân – Quốc Hưng
Quay phim: Đồng Anh Quốc
Âm nhạc: Bảo Phúc
Thiết kế mỹ thuật: Lê Trường Tiểu
Chỉ đạo nghệ thuật: Nghệ sĩ nhân sân Phạm Khắc
Giám đốc sản xuất: Nguyễn Việt Hùng
Diễn viên và vai diễn
Võ Sông Hương: vai Nam
Kinh Quốc: vai An
Huỳnh Anh Tuấn: vai Tín
Hoàng Phúc: vai Phú
Thành Liêm: Vai Mãnh
Lê Cung Bắc: Vai cha Nam
Cùng các diễn viên: Hồng Khắc Đào, Kim Xuân, Uyên Trinh, Vân Anh, Bảo Châu, Nguyễn Hậu, Kim Ngân, Công Hậu, Minh Ngọc,Lê Hoàng, Thu Hằng, Hung Thuận, Chấn Cường, Tường Vy, Ngọc Diễm
Dòng đời bắt đầu phát sóng  trên HTV7 từ 23/7/2001 vào lúc 17h mỗi chiều
Tính đến thời điểm này, “Dòng đời” là bộ phim truyền hình nhiều tập nhất của TFS. “Dòng đời” có bối cảnh ở hơn 6 tỉnh thành và không gian trải dài từ những năm 50 đến tận nhưng năm 90. 
Trong những năm chính quyền Ngô Đình Diệm áp dụng luật 10/59 nhằm gom dân lập ấp chiến lược, Nam, Tín, An, Phú, Mãnh đang còn là những cô cậu học sinh tiểu học ở một trường làng. Thế nhưng, họ lại khác nhau ở hoàn cảnh và giai tầng xã hội
Cha Nam là một ông giáo làng thanh bạc và giàu lòng yêu nước. Điều đó lại chính là cái “ tội”  để đám đại diện xã hội và dân vệ ác ôn hanh hạ, hà hiếp ông. Đứng đầu trong số đó là Sanh, đại diễn xã, cha của An. Nam là một cô bé học giỏi, chăm ngoan bao nhiêu thì An lại là một cậu bé con cưng, học kém ham chơi bấy nhiêu. Cha Tín đi theo kháng chiến. Còn cha Mãnh là một gã nát rượu.
Trong số bạn bè cùng xóm, cùng trường thì Nam và Tín thân nhau hơn cả. Theo thời gian, Nam và gia đình chuyển lên Sài Gòn, thuê nhà ở ngoại ô buôn bán. Còn gia đình An, sau khi cha chết, mẹ An cũng gom góp gia tài đưa con lên Sài Gòn lập nhà máy luyện thép. Gia đình An lên Sài Gòn, đêm theo cả Phú và Mãnh, cong Tín cũng chuyển lên Sài Gòn tiếp tục kiếm sống và học hành. Mãnh trở thành một người giúp việc thân tín của gia đình An. Phú tiếp tục đi học và trở thành một sĩ quan an ninh của chế độ Sài Gòn. Riêng An thì vẫn là một công tử được nuông chiều như ngày nào…
Tín, An, Mãnh và Phú đều theo đuổi Nam. Mỗi người một cách. Họ muốn trở thành người được Nam yêu hoặc đơn phương yêu cô. Trong số đó, Tín là người được Nam trước sau dành trọn cảm tình. Hai người luôn bên nhau trong phong trào xuống đường tranh đấu của sinh viên đô thị. Rồi phong trào bị khủng bố, để bảo toàn lực lượng, Tín được tổ chức điều vào chiến khu, sau đó ra miền Bắc đi học nghành đạo diễn Điện ảnh ở Liên Xô. Trong khi đó, để cứu vãn gia đình trước hoàn cảnh khó khăn về kinh tế, Nam nhận lời lấy An. Nhưng trước ngày cưới Nam, Mãnh đã chiếm đoạt Nam bằng thủ đoạn hèn hạ của mình. Nam định tự tử nhưng vì thương cha mẹ  và các anh em nên cô cắn răng chịu đựng một mình
Thời gian đầu ở nhà chồng, Nam được bà Sanh tin cậy, giao cho trông coi nhà máy. Tưởng rằng số phận Nam đã được yên, nhưng Mãnh vẫn luôn rình rập và tố cáo chuyên Nam thất thân cho An và bà Sanh biết. Sóng gió ập lên số phận Nam từ ấy. Nam bị mẹ chồng bạc đãi và phải ở riêng.
TRẦN BẢO
(Tạp chí Điện ảnh – Hội Điện ảnh Việt Nam năm 2000)

DÒNG ĐỜI từ tập 31 đến tập 40

(52 tập x 30 phút)

Hãng phim truyền hình thành phố Hồ Chí Minh (TFS) sản xuất
Kịch bản: Phạm Thùy Nhân
Đạo diễn : Lê Cung Bắc
Biên tập: Minh Dân – Quốc Hưng
Quay phim: Đồng Anh Quốc
Âm nhạc: Bảo Phúc
Thiết kế mỹ thuật: Lê Trường Tiểu
Chỉ đạo nghệ thuật: Nghệ sĩ nhân sân Phạm Khắc
Giám đốc sản xuất: Nguyễn Việt Hùng
Diễn viên và vai diễn
Võ Sông Hương: vai Nam
Kinh Quốc: vai An
Huỳnh Anh Tuấn: vai Tín
Hoàng Phúc: vai Phú
Thành Liêm: Vai Mãnh
Lê Cung Bắc: Vai cha Nam
Cùng các diễn viên: Hồng Khắc Đào, Kim Xuân, Uyên Trinh, Vân Anh, Bảo Châu, Nguyễn Hậu, Kim Ngân, Công Hậu, Minh Ngọc,Lê Hoàng, Thu Hằng, Hung Thuận, Chấn Cường, Tường Vy, Ngọc Diễm
Dòng đời bắt đầu phát sóng  trên HTV7 từ 23/7/2001 vào lúc 17h mỗi chiều
Tính đến thời điểm này, “Dòng đời” là bộ phim truyền hình nhiều tập nhất của TFS. “Dòng đời” có bối cảnh ở hơn 6 tỉnh thành và không gian trải dài từ những năm 50 đến tận nhưng năm 90. 
Trong những năm chính quyền Ngô Đình Diệm áp dụng luật 10/59 nhằm gom dân lập ấp chiến lược, Nam, Tín, An, Phú, Mãnh đang còn là những cô cậu học sinh tiểu học ở một trường làng. Thế nhưng, họ lại khác nhau ở hoàn cảnh và giai tầng xã hội
Cha Nam là một ông giáo làng thanh bạc và giàu lòng yêu nước. Điều đó lại chính là cái “ tội”  để đám đại diện xã hội và dân vệ ác ôn hanh hạ, hà hiếp ông. Đứng đầu trong số đó là Sanh, đại diễn xã, cha của An. Nam là một cô bé học giỏi, chăm ngoan bao nhiêu thì An lại là một cậu bé con cưng, học kém ham chơi bấy nhiêu. Cha Tín đi theo kháng chiến. Còn cha Mãnh là một gã nát rượu.
Trong số bạn bè cùng xóm, cùng trường thì Nam và Tín thân nhau hơn cả. Theo thời gian, Nam và gia đình chuyển lên Sài Gòn, thuê nhà ở ngoại ô buôn bán. Còn gia đình An, sau khi cha chết, mẹ An cũng gom góp gia tài đưa con lên Sài Gòn lập nhà máy luyện thép. Gia đình An lên Sài Gòn, đêm theo cả Phú và Mãnh, cong Tín cũng chuyển lên Sài Gòn tiếp tục kiếm sống và học hành. Mãnh trở thành một người giúp việc thân tín của gia đình An. Phú tiếp tục đi học và trở thành một sĩ quan an ninh của chế độ Sài Gòn. Riêng An thì vẫn là một công tử được nuông chiều như ngày nào…
Tín, An, Mãnh và Phú đều theo đuổi Nam. Mỗi người một cách. Họ muốn trở thành người được Nam yêu hoặc đơn phương yêu cô. Trong số đó, Tín là người được Nam trước sau dành trọn cảm tình. Hai người luôn bên nhau trong phong trào xuống đường tranh đấu của sinh viên đô thị. Rồi phong trào bị khủng bố, để bảo toàn lực lượng, Tín được tổ chức điều vào chiến khu, sau đó ra miền Bắc đi học nghành đạo diễn Điện ảnh ở Liên Xô. Trong khi đó, để cứu vãn gia đình trước hoàn cảnh khó khăn về kinh tế, Nam nhận lời lấy An. Nhưng trước ngày cưới Nam, Mãnh đã chiếm đoạt Nam bằng thủ đoạn hèn hạ của mình. Nam định tự tử nhưng vì thương cha mẹ  và các anh em nên cô cắn răng chịu đựng một mình
Thời gian đầu ở nhà chồng, Nam được bà Sanh tin cậy, giao cho trông coi nhà máy. Tưởng rằng số phận Nam đã được yên, nhưng Mãnh vẫn luôn rình rập và tố cáo chuyên Nam thất thân cho An và bà Sanh biết. Sóng gió ập lên số phận Nam từ ấy. Nam bị mẹ chồng bạc đãi và phải ở riêng.
TRẦN BẢO
(Tạp chí Điện ảnh – Hội Điện ảnh Việt Nam năm 2000)

DÒNG ĐỜI từ tập 21 đến tập 30

(52 tập x 30 phút)

Hãng phim truyền hình thành phố Hồ Chí Minh (TFS) sản xuất
Kịch bản: Phạm Thùy Nhân
Đạo diễn : Lê Cung Bắc
Biên tập: Minh Dân – Quốc Hưng
Quay phim: Đồng Anh Quốc
Âm nhạc: Bảo Phúc
Thiết kế mỹ thuật: Lê Trường Tiểu
Chỉ đạo nghệ thuật: Nghệ sĩ nhân sân Phạm Khắc
Giám đốc sản xuất: Nguyễn Việt Hùng
Diễn viên và vai diễn
Võ Sông Hương: vai Nam
Kinh Quốc: vai An
Huỳnh Anh Tuấn: vai Tín
Hoàng Phúc: vai Phú
Thành Liêm: Vai Mãnh
Lê Cung Bắc: Vai cha Nam
Cùng các diễn viên: Hồng Khắc Đào, Kim Xuân, Uyên Trinh, Vân Anh, Bảo Châu, Nguyễn Hậu, Kim Ngân, Công Hậu, Minh Ngọc,Lê Hoàng, Thu Hằng, Hung Thuận, Chấn Cường, Tường Vy, Ngọc Diễm
Dòng đời bắt đầu phát sóng  trên HTV7 từ 23/7/2001 vào lúc 17h mỗi chiều
Tính đến thời điểm này, “Dòng đời” là bộ phim truyền hình nhiều tập nhất của TFS. “Dòng đời” có bối cảnh ở hơn 6 tỉnh thành và không gian trải dài từ những năm 50 đến tận nhưng năm 90. 
Trong những năm chính quyền Ngô Đình Diệm áp dụng luật 10/59 nhằm gom dân lập ấp chiến lược, Nam, Tín, An, Phú, Mãnh đang còn là những cô cậu học sinh tiểu học ở một trường làng. Thế nhưng, họ lại khác nhau ở hoàn cảnh và giai tầng xã hội
Cha Nam là một ông giáo làng thanh bạc và giàu lòng yêu nước. Điều đó lại chính là cái “ tội”  để đám đại diện xã hội và dân vệ ác ôn hanh hạ, hà hiếp ông. Đứng đầu trong số đó là Sanh, đại diễn xã, cha của An. Nam là một cô bé học giỏi, chăm ngoan bao nhiêu thì An lại là một cậu bé con cưng, học kém ham chơi bấy nhiêu. Cha Tín đi theo kháng chiến. Còn cha Mãnh là một gã nát rượu.
Trong số bạn bè cùng xóm, cùng trường thì Nam và Tín thân nhau hơn cả. Theo thời gian, Nam và gia đình chuyển lên Sài Gòn, thuê nhà ở ngoại ô buôn bán. Còn gia đình An, sau khi cha chết, mẹ An cũng gom góp gia tài đưa con lên Sài Gòn lập nhà máy luyện thép. Gia đình An lên Sài Gòn, đêm theo cả Phú và Mãnh, cong Tín cũng chuyển lên Sài Gòn tiếp tục kiếm sống và học hành. Mãnh trở thành một người giúp việc thân tín của gia đình An. Phú tiếp tục đi học và trở thành một sĩ quan an ninh của chế độ Sài Gòn. Riêng An thì vẫn là một công tử được nuông chiều như ngày nào…
Tín, An, Mãnh và Phú đều theo đuổi Nam. Mỗi người một cách. Họ muốn trở thành người được Nam yêu hoặc đơn phương yêu cô. Trong số đó, Tín là người được Nam trước sau dành trọn cảm tình. Hai người luôn bên nhau trong phong trào xuống đường tranh đấu của sinh viên đô thị. Rồi phong trào bị khủng bố, để bảo toàn lực lượng, Tín được tổ chức điều vào chiến khu, sau đó ra miền Bắc đi học nghành đạo diễn Điện ảnh ở Liên Xô. Trong khi đó, để cứu vãn gia đình trước hoàn cảnh khó khăn về kinh tế, Nam nhận lời lấy An. Nhưng trước ngày cưới Nam, Mãnh đã chiếm đoạt Nam bằng thủ đoạn hèn hạ của mình. Nam định tự tử nhưng vì thương cha mẹ  và các anh em nên cô cắn răng chịu đựng một mình
Thời gian đầu ở nhà chồng, Nam được bà Sanh tin cậy, giao cho trông coi nhà máy. Tưởng rằng số phận Nam đã được yên, nhưng Mãnh vẫn luôn rình rập và tố cáo chuyên Nam thất thân cho An và bà Sanh biết. Sóng gió ập lên số phận Nam từ ấy. Nam bị mẹ chồng bạc đãi và phải ở riêng.
TRẦN BẢO
(Tạp chí Điện ảnh – Hội Điện ảnh Việt Nam năm 2000)

Thứ Hai, 3 tháng 12, 2018

PHẠM KHẮC - NHÀ QUAY PHIM GAN GÓC


Sáng 17/5, nhà quay phim, nhà nhiếp ảnh nối tiếng, Nghệ sỹ nhân dân Phạm Khắc, nguyên Giám đốc Đài truyền hình TP.HCM, đã qua đời tại TP.HCM.

Tại nhà tang lễ TP.HCM, nơi tổ chức lễ tang ông, PV VietNamNet đã được nhà báo Đinh Phong, người bạn chiến đấu, người đồng nghiệp của ông kể về những kỷ niệm không thể quên, mang đậm ấn tượng về một con người dũng cảm, hết mình trong công việc:

XUNG PHONG LÊN TRƯỚC, QUAY CẢNH BỘ ĐỘI XUNG PHONG

"Hôm qua, tôi đi thăm lại chiến trường xưa, trong đó có nơi tôi từng chiến đấu trong kháng chiến chống Mỹ. Tôi được tin anh ấy mất ở giữa rừng. Có tờ báo đề nghị tôi viết cho một bài gửi gấp về ngay. Giữa rừng, không có bàn ghế, tôi xé tờ lịch ngồi viết kỷ niệm của tôi với anh.

Anh Khắc đi quá nhanh khiến tôi bàng hoàng, dù tôi đã biết bệnh của anh. Những ngày gần đây, để làm phim "Sư đoàn 9 anh hùng", anh với tôi còn đi nhiều nơi. Sau đó, chúng tôi lại duyệt phim, phát sóng. Trong những lần gặp cuối cùng, tuy anh có yếu hơn, nhưng không có điều gì khiến tôi linh tính anh sắp đi xa.

Từ năm 1965, chúng tôi cùng đi nhiều chiến dịch, trong đó có chiến dịch Mậu Thân, chiến dịch giải phóng Campuchia, và gắn bó với nhau trong việc làm phim. Có nhiều kỷ niệm mãi không quên.

Năm 1966, Hồng Sến, Phạm Khắc và tôi trong lần đi cùng trung đoàn 16 đã gặp trận oanh tạc của B52. Cả khu vực chúng tôi trú bị dập nát. Khi chui lên miệng hầm, thấy cả ba thoát chết, chỉ biết nhìn nhau, không cười được.

Vào chiến dịch Mậu Thân, anh Khắc với tôi đi chung chiến trường. Tại quận 6, Sài Gòn, anh Khắc vào được phía trong, còn tôi bị giữ ở phía ngoài. Anh Khắc đã quay được những thước phim về những trận đánh ác liệt trên đường phố Sài Gòn, đặc biệt trong đó có cảnh những cô con gái tự vệ Sài Gòn vác súng chiến đấu.

Trong chuyến cùng nhau tham gia giải phóng Phnômpênh, chúng tôi đi chung một chiếc xe, mang theo lựu đạn, súng vừa đi vừa đánh để tiến vào Phnômpênh. Tại Phnômpênh, anh Khắc và tôi đã xông vào nhà tù Tuxlê và ghi được những thước phim đầu tiên về tội ác diệt chủng của Pônpốt.

Những thước phim đó sau này trở thành tư liệu rất quý. Anh Khắc còn làm nhiều phim tư liệu về Campuchia và nhiều phim được giải lớn.

Khi không còn chiến tranh, chúng tôi vẫn liên kết với nhau làm nhiều phim tài liệu về đề tài chiến tranh, trong đó có nhiều phim đáng quý như: "Sư đoàn 9 anh hùng", "Quân đoàn tuổi 20". Đó là những phim ghi lại dấu của một thời chinh chiến của những đơn vị bộ đội của miền Nam.

Điều cần nói trước tiên về Phạm Khắc là, đó là một nhà quay phim dũng cảm, xông xáo, dám đối diện với những khó khăn, ác liệt. Trong những trận đánh, bao giờ Phạm Khắc cũng xung phong lên trước, thậm chí lên trước cả đoàn quân để quay cảnh bộ đội xung phong. Có lần trận địa chưa kết thúc, Phạm Khắc nhảy lên trên một chiếc xe tăng để quay, nghe trong xe tăng rọt rẹt, anh nhìn xuống thấy một tên lính đang chĩa súng bắn lên. Anh liền móc khẩu súng tiêu diệt tên lính".

ĐỨNG TRÊN NÓC NHÀ HÀ NỘI QUAY CẢNH MÁY BAY BẮN PHÁ

"Anh có những thước phim quý giá mà ít người có thể làm được. Đó là trận suối đá ở Tây Ninh, anh ngồi trong bụi, nhìn qua kẽ lá, giữ bí mật, quay được cảnh lính Mỹ đang hành quân ngay trước mắt. Khó có người nào đối mặt với kẻ thù gần thế mà vẫn giữ được bình tĩnh.

Trong 12 ngày đêm diễn ra trận Điện Biên Phủ trên không, anh Khắc với sự dũng cảm ấy đã đứng trên một nóc nhà Hà Nội quay được cảnh máy bay bắn phá, thậm chí máy bay bị bắn rơi. Lòng dũng cảm đã đúc lên một Phạm Khắc - một người tiêu biểu cho những người cầm máy.

Tại chiến trường Campuchia, giữa những nơi còn bóng dáng Khơme Đỏ, có lần anh Khắc nói với tôi: "Thôi, ông ở nhà để tôi đi, đi càng đông càng chết nhiều".

Một điều khác tôi cảm phục ở anh là tính cần mẫn. Làm phim đề tài chiến tranh với tôi, anh mày mò suốt đêm, thậm chí anh còn bắt tôi đi các nơi lấy phim tài liệu về cho anh làm. Phim của anh nhiều tư liệu quý và cách dàn dựng rất hấp dẫn.

Sau năm 1975, chúng tôi cùng công tác ở Đài truyền hình TP.HCM. Anh Phạm Khắc làm Trưởng phòng phim ảnh, tôi làm Trưởng phòng thời sự. Sau này anh Khắc làm Phó giám đốc, tôi cũng làm Phó giám đốc kiêm Bí thư Đảng uỷ. Chúng tôi gắn bó với nhau trong công việc trong nhiều năm, đặc biệt là gắn bó với nhau trong công tác làm phim ở hai thời kỳ: những năm chiến tranh biên giới 1978, 1979, 1980; và những năm hợp tác làm phim tài liệu về chiến tranh, vào thời bình.

Thật khó diễn tả cảm giác mất mát của tôi lúc này. Anh - người đồng chí, đồng đội thân thiết - ra đi không chỉ gây mất mát cho riêng tôi, mà còn để lại chỗ khuyết không dễ bù đắp trong đội ngũ những người làm phim".

Box:
NHÀ LÀM PHIM VỚI NHIỀU GIẢI THƯỞNG LỚN

NSND Phạm Khắc tên thật là Phạm Tấn Phước, sinh năm 1939 tại Bến Tre, tham gia cách mạng từ năm 17 tuổi. Sự nghiệp của Phạm Khắc được nhiều người biết đến với các bộ phim như: Chiến thắng cây Điệp; Chiến thắng Bình Giã (giải thưởng Nguyễn Đình Chiểu, 1965); Đồng Xoài rực lửa; Chiến thắng Tây Ninh; Trận đánh ngã ba Bà Chim; Chiến đấu trên đường phố Sài Gòn (1965-1968); Hà Nội cuộc đọ sức 5 ngày (giải nhất về nghệ thuật ở Liên hoan phim quốc tế ở Praha) và Hà Nội Điện Biên Phủ trên không (giải Bông Sen bạc trong Liên hoan phim Việt Nam lần thứ 2); Hòn đảo ngọc (giải Bông sen bạc quốc gia); Bến Tre những đảo dừa xanh (giải Bông sen bạc trong Liên hoan phim Việt Nam); Chuyện kể nàng Sarết (giải Bông sen bạc tại Liên hoan phim Việt Nam); Mê Kông ký sự (đoạt giải Cánh diều vàng dành cho phim tài liệu truyền hình năm 2006).

Đặc biệt bộ phim Mê Kông ký sự của hãng phim TFS do ông chủ biên và tổng đạo diễn đã gây tiếng vang lớn ở trong nước và khu vực Đông Nam Á. Bộ phim là hành trình khám phá dòng chảy Mê Kông với những cảnh quay tuyệt đẹp cùng nhưng thông tin về lịch sử, địa lý, văn hóa của 6 nước mà dòng chảy này đi qua.

Năm 1984, ông được Nhà nước phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ Ưu tú. Năm 1997, ông được phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ Nhân dân. Năm 1981, ông được bầu vào HĐND TP.HCM. Năm 1996, ông làm Giám đốc Đài truyền hình TP.HCM. Năm 2000, ông được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động.

Phạm Cường (Theo http://vietnamnet.vn)


GẮN BÓ VỚI SƯ ĐOÀN 9


Nhà báo Đinh Phong

LTS: Cách đây tròn 45 năm, tại căn cứ Suối Nhung, tỉnh Phước Thành cũ (nay thuộc tỉnh Đồng Nai), một đơn vị Quân giải phóng cấp sư đoàn đầu tiên của chiến trường Nam bộ được thành lập mang mật danh “Công trường 9”. Sư đoàn 9 đã lập nên các chiến công ở Bầu Bàng, Dầu Tiếng, Đồng Xoài, Bình Giã...; tham gia giải phóng Sài Gòn, giải phóng đất nước Chùa Tháp... Sư đoàn 9 đã có những anh hùng nổi tiếng như Trừ Văn Thố, Tạ Quang Tỷ, Đoàn Hoàng Minh, Nguyễn Đức Nghĩa... Đã hai lần Sư đoàn 9 được phong danh hiệu anh hùng. Nhiều nhà báo đã gắn bó với Sư đoàn 9 như Nguyễn Thi, Phạm Khắc, Đinh Phong, Nguyễn Đặng... Chúng tôi xin giới thiệu bài viết của nhà báo Đinh Phong về những năm tháng gắn bó với Sư đoàn 9.

Lần đầu tiên tôi gặp các chiến sĩ của Trung đoàn 1, Trung đoàn 2 - tiền thân của Sư đoàn 9 vào tháng 5-1965 tại Đại hội Anh hùng chiến sĩ thi đua toàn miền Nam lần 1. Tháng 12-1964 đến tháng 1-1965 các chiến sĩ đó đã lập nên chiến thắng Bình Giã. Họ đến đại hội với bản báo công về những ngày chiến đấu anh hùng. Sau đại hội, các chiến sĩ Trung đoàn 1, Trung đoàn 2 lại lập nên chiến công anh hùng ở Đồng Xoài.

Do đang ở chiến trường miền Tây, tôi không được dự lễ công bố thành lập Công trường 9 - Sư đoàn 9 vào ngày 2-9-1965. Hơn một tháng sau tôi đã có mặt ở đơn vị và viết về chiến thắng Dầu Tiếng vang dội của Trung đoàn 1 (tháng 11-1965). Rồi ba lô lên vai, tôi cùng sư đoàn hành quân về vùng Đất Cuốc, bắc Sông Bé... với những trận đánh thắng dòn dã. Rồi sau đó đánh tan cuộc càn Gian-xơn Xi-ti của 45.000 quân Mỹ vào căn cứ của lãnh đạo cách mạng miền Nam, lập nên các chiến công ở Đồng Rùm, Ngã ba Vũng... Trong chiến dịch Mậu Thân 1968, tôi được đi theo Sư đoàn 9 khi đơn vị lập nên chiến công vang dội ở Vĩnh Lộc, Cầu Tre, trên đường phố Sài Gòn ở Vườn Lài, Chợ Thiếc. Theo lời kêu gọi của nhân dân Campuchia, Sư đoàn 9 đã hành quân lên đất Chùa Tháp giải phóng một vùng rộng lớn, đánh tan cuộc càn Chella của địch. Là phóng viên chiến trường, tôi được cán bộ chiến sĩ Sư đoàn 9 yêu thương, che chở và giúp đỡ thu thập tài liệu để viết.

Trong cuộc Tổng tiến công mùa xuân 1975, sư đoàn vào Phước Long nhưng tôi không được theo chân sư đoàn vào Sài Gòn vì đang theo bộ đội từ Tây nguyên đánh xuống phía nam...

Rồi tôi lại cùng Sư đoàn 9 trở lại đất Chùa Tháp năm 1979 giúp bạn bảo vệ phum sóc và đón các chiến sĩ sư đoàn hoàn thành nhiệm vụ trở về năm 1989.

Đã 45 năm tôi gắn bó với sư đoàn chủ lực đầu tiên của Nam bộ thành đồng. Tôi đã được đi cùng và được sự dẫn dắt của các vị tướng lĩnh sư đoàn như Hoàng Cầm, Lê Văn Tưởng, Hoàng Thế Thiện, Nguyễn Thế Bôn, Bùi Thanh Vân, Nguyễn Thới Bưng, Lê Nam Phong, Nguyễn Văn Thái... Đặc biệt, tôi đã được sống và chiến đấu với các chiến sĩ mà nay đã trở thành các tướng lĩnh của quân đội ta như Lê Văn Dũng, Đào Lợi, Nguyễn Năng Nguyễn, Nguyễn Minh Chữ, Huỳnh Hồng Sơn...

Chính từ những năm tháng sống và chiến đấu ở Sư đoàn 9, tôi đã viết nhiều về họ và đã làm nhiều phim tài liệu về Sư đoàn 9 anh hùng.

Vào năm 1990, nhân dịp kỷ niệm 25 năm thành lập sư đoàn, tôi đã cùng các anh Bùi Cát Vũ, Phạm Khắc, Nguyễn Hồ làm bộ phim bốn tập Sư đoàn 9 anh hùng. Để làm được phim này, đạo diễn Phạm Khắc đã xem hàng trăm giờ phim tư liệu của ta và địch để tìm ra những cảnh ghi các trận đánh của Sư đoàn 9. Tôi đã ra Hà Nội, lục trong kho phim tư liệu của Xưởng phim Quân đội để tìm các đoạn phim quay về Sư đoàn 9, đặc biệt có đoạn phim đại tướng Nguyễn Chí Thanh thăm sư đoàn và thăm Bệnh viện K70 đang chữa trị cho các chiến sĩ Sư đoàn 9.

Vào năm 1995, tôi và Phạm Khắc lại tiếp tục làm phim tài liệu Quân đoàn tuổi 20 về Quân đoàn 4, trong đó có Sư đoàn 9. Cũng vào năm đó, tôi viết kịch bản cho Hãng phim truyền hình thành phố Hồ Chí Minh thực hiện phim tài liệu Dấu son Bình Giã nhân kỷ niệm 30 năm chiến thắng oai hùng này.

Về các tướng lĩnh của sư đoàn, tôi đã cùng Hãng phim truyền hình thành phố Hồ Chí Minh hoàn thành ba tập phim về ba người lãnh đạo đầu tiên của sư đoàn là Tư lệnh Hoàng Cầm, Chính ủy Lê Văn Tưởng và Phó chính ủy Hoàng Thế Thiện...

Vẫn còn nhiều tướng lĩnh, sĩ quan, chiến sĩ của Sư đoàn 9 có nhiều chiến công, có nhiều kỷ niệm rất xúc động mà chưa viết hoặc chưa làm phim. Đó là trách nhiệm của những người đã gắn bó với Sư đoàn 9 - trong đó có tôi là một nhà báo, nhà văn, nhà biên kịch phim tài liệu...

Tôi đã hứa với đồng đội, với vong linh các liệt sĩ rằng sẽ cố gắng viết về người lính Quân giải phóng, trong đó có Sư đoàn 9, bởi tôi luôn nghĩ rằng “chức sắc và tiền bạc sẽ đi qua, nhưng nghĩa tình, nhất là nghĩa tình của những người lính, sẽ còn lại một đời...”.
ĐINH PHONG
Kỷ niệm 45 năm thành lập Sư đoàn 9
(2-9-1965 - 2-9-2010)
Nguồn: congan.com.vn


SƯ ĐOÀN 9 ANH HÙNG 6 tập

Phim tài liệu TFS 2006 - trọn bộ 6 tập
Chủ biên và chỉ đạo nghệ thuật NSND Phạm Khắc
Kịch bản Đinh Phong
Biên tập Nguyễn Hoàng
Đạo diễn Đồng Anh Quốc
Quay phim NSUT Trần Mỹ Hà - NSUT Trương Minh Phúc - NSUT Phan Thanh Dũng - Đào Quang Tuệ - Huỳnh Lâm
Dựng phim Thanh Sơn
Âm thanh Thanh Bình
Viết lời bình Đinh Phong
Chọn nhạc Thanh Bình
Đọc lời bình Anh Tuấn
Trợ lý đạo diễn Thùy Trang
Phụ quay Thái Thiện Toàn
Thiết kế đồ họa Hồng Minh
Chủ nhiệm Huỳnh Phương
Giám đốc sản xuất Nguyễn Việt Hùng

MỤC LỤC (cập nhật ngày 6.12.2018)

-Loáng thoáng phía sau màn khói – giao lưu https://phimtailieudonganhquoc.blogspot.com/2018/12/loang-thoang-phia-sau-man-khoi.html -...